|
BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM
|
|
Lịch sử |
 |
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa là một cơ sở khoa học vừa là một trung tâm văn hóa, có tính khoa học cao và tính xã hội rộng lớn. Bảo tàng có các chức năng như sau: Nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn, để giới thiệu và giáo dục về những giá trị lịch sử - văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học.
v
Quá trình hình thành
Loại hình bảo
tàng dân tộc học rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn về nhiều
phương diện trên qui mô quốc gia cũng như ở từng địa phương, bởi
vì Việt Nam có tới 54 dân tộc. Cho nên, ngay từ năm 1981 Nhà
nước đã chủ trương hình thành một Bảo tàng Dân tộc học đặt tại
thủ đô Hà Nội. Công trình Bảo tàng Dân tộc học được chính thức
phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật ngày 14-12-1987 và được
Nhà nước cấp đất để xây dựng: năm 1987 - 2.500m2, năm
1988 - 9.500m2, đến năm 1990 Thủ tướng Chính phủ có
quyết định giao toàn bộ 3,27 ha.
Bảo tàng bắt đầu được cấp vốn chuẩn bị đầu tư vào năm 1986. Công việc xây dựng
móng triển khai từ cuối năm 1989. Theo luận chứng kinh tế - kỹ
thuật, tổng kinh phí để xây dựng là 27 tỷ đồng, chưa kể khoảng 4
tỷ đồng cho việc sưu tầm hiện vật, tư liệu và tổ chức trưng bày
Suốt nhiều năm,
Ban quản lý công trình Bảo tàng và Phòng Bảo tàng là một bộ phận
của Viện Dân tộc học. Ngày 24-10-1995, Thủ tướng Chính phủ ra
quyết định về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (trực
thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, nay là
Viện Khoa học xã hội Việt Nam).
Ngày 12 tháng 11
năm 1997, đúng vào dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước
có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội, Phó Chủ tịch nước Nguyễn
Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac đã cắt băng
khai trương Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam toạ lạc bên đường Nguyễn Văn Huyên ở quận Cầu Giấy,
cách trung tâm thủ đô Hà Nội chừng 8 km. Đây vốn là vùng đất
ruộng của cư dân sở tại. Tất cả các công trình cơ sở hạ tầng
đều mới được xây dựng cùng với quá trình hình thành Bảo tàng.
Đường Nguyễn Văn Huyên và đường Nguyễn Khánh Toàn chạy qua phía
trước Bảo tàng cũng đều mới được xây dựng.
Công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do kiến trúc sư Hà Đức
Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xây dựng nhà ở và công
trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế. Nội thất công trình do
Bà kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp) thiết kế.
Trong khoảng một
chục năm qua, Bảo tàng có 2 khu vực chính. Một khu bao
gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ
thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường...
Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2,
trong đó 750 m2 dùng làm kho bảo quản hiện vật.
Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bắt
đầu xây dựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối
cùng trong năm 2006.
Bên cạnh đó, hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cấp thêm hơn 1 ha đất, nâng diện tích khuôn viên của Bảo
tàng lên gần 4,4 ha. Tại phần đất mở rộng này, từ giữa năm 2007
bắt đầu xây dựng một tòa nhà 4 tầng, sẽ mang tên “nhà Cánh diều”,
để giới thiệu về văn hóa các dân tộc ngước ngoài, chủ yếu là các
dân tộc ở Đông Nam Á. Đây sẽ là khu trưng bày thứ 3 của
Bảo tàng.
Mười năm đầu mở cửa, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã đón tiếp
khoảng 1.200.000 lượt khách tham quan, trong đó có trên 530.000
khách quốc tế đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Số du
khách đến Bảo tàng ngày càng gia tăng, năm 2007 đạt 337.000 lượt
người, trong 6 tháng đầu năm 2008 – hơn 210.000 lượt người…

v
Những điểm mới
Có thể nói, Bảo tàng
này là một trung tâm trưng bày và lưu giữ quí giá về văn hoá của
đủ 54 dân tộc. Tính đến năm 2000 đã tích luỹ được 15.000 hiện
vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng
ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa
CDRom . Đồng thời, đây là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học
với những chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành.
Người ta đến đây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn để tìm
hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và
đặc sắc của từng tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền
thống chung của các dân tộc. Vì vậy, từ nhân dân khắp các miền
trong nước đến khách nước ngoài, từ học sinh, sinh viên đến nhà
khoa học đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây.
Hiện vật của BTDTHVN
không phải chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm
nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân
như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu...
Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của
cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi
sáng tạo văn hoá của họ. Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật
rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các
tiêu chí khác nhau. Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc,
như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai... Phân
chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức,
về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ...
Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới
xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác. Trên cơ
sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các
dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối
tượng, mọi trình độ học vấn.
BTDTHVN được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự
tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng
dành cho tất cả mọi người. Quan niệm này được thể hiện trong cả
kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày. Bảo tàng có lối đi riêng
thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di
chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai. Các
bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại.
Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế
giới, BTDTHVN đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thường cho
tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi có thể đọc dễ
dàng và không mỏi mắt. Các tấm pa nô cũng được treo ở tầm cao có
tính toán phù hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi. Phần trưng bày của
Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài viết, có băng hình, có các tư
liệu tham khảo... mà người xem tuỳ trình độ và nhu cầu khác nhau
có thể khai thác nhiều hay ít.
Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm vì hiện vật phản ánh những
sinh hoạt đời thường của nhân dân các dân tộc. Vậy nên một quan
điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để
người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh
tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời thường. Trong Bảo tàng
không có tranh minh hoạ. Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt
nào đó thì Bảo tàng chỉ dùng ảnh hay băng hình phản ánh cuộc
sống thực của các dân tộc.
Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày
một số lượng hiện vật hạn chế: gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh.
Quan điểm chủ đạo là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào trong
các tủ trưng bày, bởi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận
được một cách tập trung.
Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết
hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ. Hầu hết hiện vật
trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày
trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4
mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện
vật. Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo. Mỗi
hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho
biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó. Bảo tàng cũng sử dụng
manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng âm
thanh, một số mô hình và 33 pa nô trong trưng bày. Mặc dù diện
tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được
trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn
hoá nào đó. Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không
chỉ thông qua hệ thống hiện vật, mà còn có cả phim video nữa.
Bảo tàng chủ trương
tăng cường lời giải thích để phục vụ người xem. Hơn 100 bài viết
trên panô và gắn với tủ kính hoặc với tái tạo đều cố gắng cung
cấp những thông tin cần thiết và ảnh minh hoạ, nhiều pa nô có cả
bản đồ. Tuy nhiên, do hạn chế về khuôn khổ nên phải viết dưới
dạng ngắn gọn và cô đọng. Với mục đích phục vụ cả khách nước
ngoài, các bài viết đó cũng như các phụ đề của hiện vật không
chỉ dùng tiếng Việt, mà còn in bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì
vậy, dù không cần thuyết minh viên giới thiệu, người xem vẫn có
thể hiểu được đáng kể về các phần, các tủ, các hiện vật trưng
bày.
Bảo tàng cố gắng tìm các giải pháp kỹ thuật hiện đại trong
phương pháp thể hiện trưng bày như việc sử lý ánh sáng, dùng đèn
chuyên dụng chiếu vào từng hiện vật hay từng bộ phận của hiện
vật làm nổi lên vẻ đẹp cần gây sự chú ý quan sát. Trong điều
kiện hiện nay, Bảo tàng đã lựa chọn phương án thông khí cho toàn
bộ khu trưng bày. Từng tủ kính đều được lắp hệ thống thông khí
để đảm bảo cho hiện vật không bị mốc.
Đối với khu ngoài trời, do đất hẹp nên Bảo tàng chỉ có thể dựng
9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như:
Nhà rông của người Ba Na, nhà sàn dài của người Ê Đê, nhà sàn
của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp
ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà trệt của
người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ của người
Gia Rai. Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây
xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc
chảy suốt 4 mùa, có cầu bắc nối đôi bờ. Những trưng bày ở phần
này đang từng bước được thực hiện.